history.html
 

 

LỊCH SỬ VÀ HẠNH THÁNH CỦA CHA THÁNH PHÊRÔ ĐOÀN CÔNG QUÝ

Cha Thánh Phêrô Đoàn Công Qúy đã được sinh ra vào năm 1826 tại Xứ Đạo Búng, Làng Hưng Thịnh, Thủ Dầu Một (Nay là Tỉnh Bình Dương), Nam Việt Nam.
Cha Thánh Phêrô là người con út trong gia đình gồm sáu người con; bố là Ông Antôn Đoàn Công Miêng; mẹ là Bà Anê Nguyễn Thị Thường.

Thuở thiếu thời, Ngài đã giúp lễ cho, và học đạo với, Cha Tám tại Xứ Đạo Búng.
Qua sự giới thiệu của Cha Tám, Ngài đã được theo học tiếng La Tinh và tín lý với Cha Gioan Mịch. Sau đó, Ngài đã được Cha Gioan Mịch gởi đi học tại Đại Chủng Viện Thánh Giuse tại Thị Nghè. Sau một năm học tại Chủng Viện Thánh Giuse, Ngài đã được gởi sang Đại Chủng Viện Penang, Malaysia, để tiếp tục theo học Triết học và Thần học.
Bảy năm sau, Ngài trở về nước, dạy Giáo lý, chỗ Ngài được thụ phong linh mục.

Bấy giờ là năm 1855, khi Ngài trở lại quê hương Việt Nam. Đó là một năm đau buồn:
Tang riêng của Ngài là sự qua đời của Ông Antôn Đoàn Công Miêng, người Cha thân yêu của Ngài; tang chung đó là sự cấm đạo của Vua Tự Đức. Qua chiếu chỉ, triều đình đã triệt hạ thánh dường, bắt bớ, cầm tù, và hành hạ giáo hữu. Các cơ sở tôn giáo cũng bị đốt phá.

Trong giai đoạn u tối này, Cha Thánh Phêrô đã được các đấng bề trên sai đi các họ đạo để dạy dỗ và củng cố niềm tin của các giáo hữu ở nơi Thiên Chúa. Ngài đã được thụ phong linh mục vào năm 1858, Sau đó, Ngài đã được Đức Cha bổ nhiệm Ngài về giúp Xứ đạo Dầu Nước, Cù Lao Giêng, Tỉnh An Giang.

Ngài được biết đến như một người yêu thơ, yêu nhạc (Đó cũng là một lý do chính mà Ca Đoàn đã trọn Ngài làm Thánh Bổn Mạng).
Ngài cũng được biết đến như một người có lòng hiếu đặc biệt đến người mẹ của Ngài.

Một ngày, vào năm 1859, trong khi Cha Thánh Phêrô Đoàn Công Qúy đang lưu trú tại nhà Ông Trùm Phụng (Người sau này được phong Chân phứơc với danh hiệu Emmanuel Lê Văn Phụng) Quan Tổng đốc An Giang đã gởi lính tới bắt Ngài và các tín hữu khác. Ngài và các tín hữu khác đã bị giam cầm. Trong thời gian bị lao tù, Ngài đã nhiều lần được phủ dụ cũng như bị đe dọa; tuy nhiên, Ngài vẫn một mực trung kiên với Chúa.

Vào ngày 31, tháng 7, năm 1859 Ngài bị giải ra pháp trường và bị xử trảm. Xác của Ngài được mai táng tạm tại xứ đạo Nang Gù.
Say này, xác của Ngài được cải táng và chôn cất tại Chủng Viện Cù Lao Giêng vào năm 1959.

Năm mươi năm sau, kể từ năm Ngài bị xử trảm, vì niềm tin của Ngài, Ngài đã được Đức Thánh Cha Pio X suy tôn Chân Phước. Và vào ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phalô II đã phong Ngài, cùng các Vị Chân Phước Tủ Đạo khác, lên hàng Hiển Thánh.

Lễ Nhớ hàng năm của Ngài là ngày 31, tháng 7.